Các điểm mới của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Đăng lúc: Thứ hai - 02/06/2014 22:23 - Người đăng bài viết: admin
Ngày 28/11/2013, Quốc hội bỏ phiếu thông qua Bản Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chủ tịch Quốc hội đã ký chứng thực, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Hiến pháp. Bản Hiến pháp có hiệu lực từ ngày 1/1/2014.
Hiến pháp năm 1992 được thông qua trong thời kỳ đầu của đổi mới, và có thể gọi Hiến pháp đó là Hiến pháp của thời kỳ đổi mới. Hơn 20 năm qua, Hiến pháp 1992 là cơ sở pháp lý rất quan trọng để đất nước ta tiến hành đổi mới trong các lĩnh vực. Qua hơn 20 năm, công cuộc đổi mới của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, tình hình trong nước và thế giới có nhiều thay đổi. Trong nước đổi mới đã đạt được những thành tựu, bắt đầu bước vào một giai đoạn mới, phát triển mới để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do đó, vấn đề sửa đổi các quy định của Hiến pháp 1992 đã được đặt ra, được nghiên cứu, trước hết từ Cương lĩnh, Nghị quyết đại hội của Đảng. Trên cơ sở đó, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIII (tháng 8/2011) đã thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi Hiến Pháp 1992. Quá trình sửa đổi được chuẩn bị công phu, nghiêm túc. Tại Hội nghị Trung ương 8 có kết luận việc chuẩn bị, quá trình dự thảo công phu, nghiêm túc. Đây là đợt sinh hoạt pháp lý rất quan trọng ở nước ta, bởi có sự quan tâm của toàn đảng, toàn quân và toàn dân. Đây cũng là văn bản pháp luật quan trọng được đưa ra lấy ý kiến toàn dân. Và cũng là lần đầu tiên, một văn bản pháp luật quan trọng được gửi đến từng hộ gia đình, để đông đảo người dân tham gia đóng góp ý kiến.

 

   Bố cục của Hiến pháp: Gồm có 11 chương và 120 điều. So với Hiến pháp 1992 thì số lượng chương, điều có rút đi. Hiến pháp 1992, có 12 chương và 147 điều. Trong đó:

Chương Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca trước đây ở chương 11, nhưng qua quá trình lấy ý kiến của nhân dân, ý kiến của đại biểu Quốc hội, nhiều ý kiến cho rằng quốc kỳ, quốc huy, quốc ca phải gắn liền với thể chế chính trị, do đó nhập vào chương Chế độ chính trị là chương 1. Gộp 2 chương, Kinh tế, văn hóa - giáo dục, Khoa học- công nghệ và môi trường vào chương 3 vì muốn thể hiện một tư tưởng, một chủ trương, đường lối của Đảng ta về xây dựng một nền kinh tế bền vững. Tức là nền kinh tế đó gắn với giải quyết vấn đề về công bằng xã hội, gắn với phát triển văn hóa - giáo dục, khoa học - công nghệ, môi trường. Bớt đi 2 chương nhưng thêm một chương. Do đó, Bản Hiến pháp mới chỉ bớt đi một chương và 27 điều. Trong số 120 điều thì có 7 điều được giữ nguyên như Hiến pháp 1992, 12 điều hoàn toàn mới, 101 điều được sửa đổi, bổ sung.

 

Các điểm mới cơ bản của Hiến pháp 2013:

Lời nói đầu: Lời nói đầu của Hiến pháp năm 2013 tổng quát và gọn hơn so với Lời nói đầu trong Hiến pháp năm 1992. Lời nói đầu của bản Hiến pháp đã khẳng định truyền thống của dân tộc Viện nam; Lịch sử của dân tộc Việt nam; Lịch sử lập hiến của dân tộc Việt Nam đồng thời nhấn mạnh " Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Lời nói đầu đã thể hiện điểm mới không chỉ ngắn gọn hơn mà có ý nghĩa sâu xa, đó là Hiến pháp do nhân dân xây dựng lên và nhân dân cũng là ngưới thi hành và bảo vệ Hiến pháp.

 

Chương I – Chế độ Chính trị Hiến pháp năm 2013 thể hiện các yêu cầu, định hướng của Đảng rất rõ:

- Hiến pháp thể hiện bản chất của Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, pháp quyền, của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Vấn đề này được thể hiện rất rõ trong toàn bộ Hiến pháp. Có thể nói đây là Hiến pháp dân chủ và phát triển. Vấn đề này thể hiện tập trung nhất ở chương 1, ở chế độ chính trị. Điều 1 cơ bản giữ nguyên. Điều 1 là điều tuyên bố không những với quốc dân đồng bào ta, mà còn với thế giới về nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

- Điều 2, quy định về tính chất dân chủ của Nhà nước. Ở đây quy định Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Ở Khoản 2,  Điều 2 quy định dân chủ và nền tảng. Khoản 3 quy định nguyên tắc, được coi như là một nguyên tắc tổ chức thực hiện. Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể ở các quy định tiếp theo của Hiến pháp.

Điều 2 một mặt kế thừa Hiến pháp 1992, nhưng cách thể hiện mới. Khẳng định nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nguyên tắc tổ chức, quyền lực nhà nước có sự phân công phối hợp và kiểm soát.

- Điều 3 quy định về quyền làm chủ của nhân dân. Có những tuyên bố rất rõ ràng. Nhà nước ta tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo quyền con người, quyền công dân. Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

- Điều 4 của Hiến pháp được giữ nguyên, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời thêm Khoản 3 có quy định các tổ chức của Đảng và những đảng viên của Đảng Cộng sản Viêt Nam hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Khoản này đã có trong Hiến pháp 1992, nhưng được thể hiện lại rõ ràng hơn, cụ thể hơn.

- Điều 5 quy định rất cụ thể, rất rõ quy tắc, quy định về tính thống nhất của quốc gia. Tức là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc, cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Có quy định về ngôn ngữ chung của quốc gia đó là tiếng Việt. Nhưng các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết để giữ gìn bản sắc, phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình. Ở đây, ngôn ngữ chung quốc gia và ngôn ngữ của từng dân tộc được bảo đảm. Chính sách của nhà nước cũng quy định rất rõ, Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện, tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực cùng phát triển đất nước. Hiến pháp lần này thể hiện rõ hơn chủ quyền của nhân dân.

- Điều 6 quy định nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, đại diện thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, thông qua các cơ quan khác của nhà nước. Hiến pháp 1992 quy định: Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp.
  - Điều 9 quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cơ bản nội dung kế thừa hiến pháp hiện hành 1992. Quy định mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị xã hội và các cá nhân tiêu biểu. Mặt trận Tổ quốc là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
   - Khoản 2 có sự bổ sung, bên cạnh mặt trận có các tổ chức thành viên của mặt trận là các tổ chức chính trị xã hội. Trước đây, trong Hiến pháp chỉ có Công đoàn và Mặt trận là được quy định trong Hiến pháp. Nhưng hiện nay các tổ chức chính trị xã hội cũng được quy định trong điều 9 của Hiến pháp đó là Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Họ là những người tự nguyên bảo vệ quyền, lợi ích chính đảng của hội viên. Cùng với các thành viên khác của mặt trận, phối hợp, thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Điều 10 giữ nguyên quy định của Hiến pháp hiện hành về Công đoàn. Nhiều ý kiến cho rằng Công đoàn cũng là một tổ chức chính trị - xã hội. Tại sao những tổ chức chính trị - xã hội khác không được quy định những điều riêng trong Hiến pháp. Trong khi đó, Công đoàn là một thành viên của mặt trận cũng như Phụ nữ, Nông dân. Tại sao các tổ chức đó không có quy định riêng, mà Công đoàn lại có điều riêng, tuy đã có trong điều 9 của Hiến pháp. Từ Nghị quyết, Cương lĩnh, kết luận nhiều nghị quyết của Bộ chính trị cũng như của Trung ương giữ nguyên điều 10, vì tính chất quan trọng của tổ chức Công đoàn. Vì Công đoàn tổ chức của giai cấp tiên tiến đó là giai cấp công nhân. Đặc biệt trong giai đoạn phát triển mới, Công đoàn có vị trí, vai trò rất quan trọng.

 

 Chương II:  Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ công dân.

Đây là một trong những nội dung được thể hiện rõ nét trong Hiến pháp. Trước hết, trước đây chương này là Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đặt ở chương 5 của Hiến pháp. Trước đây chúng ta đặt chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường, bảo vệ Tổ quốc, sau đó mới đến quyền và nghĩa vụ con người. Bây giờ quyền, nghĩa vụ cơ bản công dân được xác định đưa lên chương 2 của Hiến pháp và có rất nhiều điểm mới.

Trước hết rà soát lại để giữ cơ bản quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân của Hiến pháp 1992. Đồng thời, tổng kết để quy định, bổ sung một số quyền đó là những thành tựu của 25 năm đổi mới mà chúng ta đã đạt được. Bổ sung những quyền đã được quy định trong Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Hiện nay, Việt Nam là thành viên của nhiều công ước quốc tế, nên phải bổ sung vào văn bản, đặc biệt là Hiến pháp. Do vậy, tên chương này không phải là Quyền và nghĩa vụ công dân như trước đây, mà là Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ công dân. Đây là bước phát triển về nhận thức, về quan điểm, chủ trương. Trong Hiến pháp có nhiều điểm mới về quy định. Ngay trong điều đầu tiên quy định về Quyền con người thì Điều 14 có quy định: đây là một trong những nội dung cùng những nội dung khác khi nói về nhân dân, về con người thì trong bản Hiến  pháp này, chương này thể hiện tập trung nhất đường lối, chủ trương của chúng ta lấy con người làm trung tâm của mọi chính sách, trung tâm của mọi giải pháp. Điều 14 quy định: ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyền con người, quyền công dân về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội được quy định, công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo hiến pháp, pháp luật.

 Điều 22 quy định công dân có quyền có nơi ở hợp pháp, mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

  Điều 31, quy định người bị buộc tội coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo tuần tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Có bản án, nhưng bản án đó phải được tuyên theo trình tự tố tụng nhất định. Trên thế giới có nhiều bản án nhưng không theo trình tự pháp luật, nhiều nước đang hội nghị vào bắt và xử ngay; cũng có bản án lập ngay tại chỗ, nhưng không theo tinh thần của Quyền con người, Quyền công dân.

Hiến pháp 1992 quy định người bị buộc tội bị coi là không có tội… Hiến pháp1992, không ai bị coi là có tội. 2 sự việc tưởng là giống nhau, nhưng tư tưởng mới của Hiến pháp này là người bị buộc tội được coi là không có tội nếu như các chứng cứ điều tra chống lại họ có tội thì lại khác.

Hiến pháp 1992 quy định không ai bị coi là có tội, vì con người sinh ra vốn là thiện, con người xuất hiện ở đây trước hết không phải là người phạm tội, nếu như sau đó các chứng cứ chống lại họ, kết quả điều tra chống lại họ, nói rằng anh này phạm tội và sau đó cơ quan tố tụng chứng minh được anh có tội thì khi ấy anh ta mới bị coi là người có tội.

Quyền thừa kế tư nhân được pháp luật bảo hộ, ...đó là những bảo đảm rất chắc chắn. Những trường hợp vì quốc phòng an ninh, vì lợi ích quốc gia công cộng, thì có thể trưng mua, trưng dụng tài sản, nhưng chỉ trong trường hợp cần thiết do luật định. Những quy định về quyền khác trong này cũng quy định rất rõ. Quyền được học tập, làm việc, Quyền an sinh xã hội, Quyền được sống trong môi trường trong lành đó là những quyền rất mới.

Nghĩa vụ, ở điều 45 quy định, công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, có rất nhiều ý kiến lúc đầu thực hiện theo luật định, hoặc có thể thực hiện luật định nghĩa vụ quân sự bằng hình thức thay thế. Nhưng ý kiến của nhân dân cho rằng nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ cao cả, đó là nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.


   Chương III: Văn hóa - giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường. Chương này nếu như Hiến pháp hiện có 29 điều, thì Hiến pháp lần này có 14 điều. thể hiện rất rõ, rất khái quát. Tính chất của nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực có sự hội nhập và hợp tác quốc tế. Khẳng định nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

- Điều 53, 54 rất quan trọng quy định về đất đai. Điều 53 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Điều 54 quy định các trường hợp thu hồi đất. Trước hết,  vấn đề đặt ra là khi đã giao quyền sử dụng đất cho người dân rồi thì Nhà nước có quyền thu hồi đất không? Nhiều ý kiến khẳng định rằng Nhà nước không có quyền thu hồi đất khi đã giao quyền sử dụng đất. Nhà nước chỉ có quyền mua lại, hoặc xin mua lại. Hiện nay, quyền sử dụng đất được pháp luật quy định rất rõ, rất rộng. Nhưng không có nghĩa quyền sử dụng đất là quyền sở hữu. Không có nghĩa người có quyền sử dụng đất là chủ sở hữu đất đai, Nhà nước mới là người chủ sở hữu. Khái niệm sở hữu khác với khái niệm sử dụng. Sở hữu có 3 yếu tố cấu thành (3 quyền) gồm: Quyền chiếm hữu (quản lý), quyền khai thác sử dụng, quyền định đoạt. Hai quyền trên thì quyền sử dụng cơ bản trùng, nhưng quyền định đoạt thì một phần của quyền ấy cũng quy định cho người sử dụng.

- Chương Kinh tế xã hội, văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường cũng được quy định cụ thể.

 

- Chương IV - Bảo vệ Tổ quốc cơ bản giữ như cũ. Khẳng định bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân. Quy định vị trí, vai trò lực lượng vũ trang của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Không chỉ bảo vệ Tổ quốc trong chiến tranh, mà bảo vệ  kinh tế, an ninh, quốc phòng, đối ngoại đều nhằm mục đích bảo vệ Tổ quốc.

   - Các quy định về bộ máy nhà nước:

+ Quốc hội: quy định rõ hơn nhiệm vụ thẩm quyền Quốc hội là cơ quan lập pháp, Ủy ban thường vụ có điều chỉnh một số nhiệm vụ cho tương ứng. Quy định rõ hơn về vị trí, vai trò của Chủ tịch nước. Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, là người đứng đầu bộ máy nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đối nội, đối ngoại và thống lĩnh lực lượng vũ trang.

 + Chính phủ: là cơ quan hành pháp cao nhất, thực hiện quyền hành pháp và là cơ quan chấp hành của Quốc hội, vừa bảo đảm được nguyên tắc tổ chức của Nhà nước ta. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất, nhưng đồng thời có sự phân công, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, bảo đảm thống nhất bộ máy nhà nước. Làm rõ hơn vai trò trách nhiệm của tập thể Chính phủ như: Thủ tướng, các phó thủ tướng, các bộ trưởng và các thành viên Chính phủ.

Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân là những cơ quan rất quan trọng. Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Như vậy, ở Việt Nam cơ quan thực hiện quyền tư pháp đó là toà án. Toà án là cơ quan xét xử. Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Viện kiểm sát là cơ quan thực hiện quyền công tố và kiểm soát hoạt động, bảo vệ pháp chế.

+ Chính quyền địa phương: Qua nhiều lần sửa đổi Hiến pháp, đều có những nghiên cứu về chính quyền địa phương nhưng không có phương án cụ thể. Lần này, trong Hiến pháp đã giải quyết được vấn đề. Trước hết, các cấp chính quyền, các đơn vị hành chính cơ bản giữ nguyên. Chỉ khác ở đơn vị hành chính tương đương để tạo điều kiện cho việc tổng kết làm thí điểm tổ chức chính quyền đô thị hiện nay. Có bổ sung khái niệm đơn vị hành chính tương đương quận, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh.

Kiểm toán Nhà nước quy định nguyên tắc, vị trí, vai trò của kiểm toán. Những vấn đề cụ thể do Luật kiểm toán quy định.

 

Chương Hiệu lực Hiến pháp:  Có những quy định hiệu lực cụ thể. Cơ chế bảo vệ hiến pháp thế nào, trước đây chúng ta đặt ra để nghiên cứu các cơ chế bảo vệ hiến pháp. Hiện nay, chúng ta đang theo cơ chế có nhiều cơ quan khác nhau như Quốc hội, Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát thực hiện bảo vệ Hiến pháp. Nhưng có cơ quan độc lập bảo vệ Hiến pháp. Hiện nay, trong Hiến pháp quy định: Quốc hội, các cơ quan Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân, các cơ quan khác và toàn thể nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp. Mở đầu chúng ta có Nhân dân Việt Nam xây dựng và thi hành Hiến pháp này. Kết thúc cũng có đồng thời trách nhiệm các cơ quan nhà nước và nhân dân.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm
Thủ tục hành chính
Lịch làm việc
Đầu tư đấu thầu
Thông tin quy hoạch
Danh mục dự án đầu tư có sử dụng đất
Nhà ở và thị trường Bất động sản
Hạ tầng kỹ thuật đô thị
Biểu mẫu
Hòm thư góp ý
Trả lời ý kiến bạn đọc
Tiếp nhận ý kiến
Bộ câu hỏi phục vụ thi sát hạch

Văn bản mới ban hành

Liên kết website

Thống kê lượt truy cập

  • Đang truy cập: 17
  • Hôm nay: 2485
  • Tháng hiện tại: 104554
  • Tổng lượt truy cập: 1614174
Bộ Xây dựng
Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị
Công báo tỉnh Quảng Trị
Hệ thống gửi nhận văn bản
Hệ thống thư điện tử